‘Di sản’ Việt Nam qua các thế hệ

Thế hệ hội nhập

“Học thì còn nhiều dịp, nhưng mở cơ quan liên lạc với Mỹ thì chỉ có một lần này thôi”, đại sứ Hà Huy Thông (68 tuổi, Hà Nội) thuật lại lời của Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai khi giao ông làm Trưởng đoàn tiền trạm đi mở Cơ quan liên lạc Việt Nam tại Mỹ năm 1994. Trước đó, ông Thông chờ Bộ duyệt cho đi học nước ngoài theo diện học bổng.

Hơn 10 năm công tác trong ngành ngoại giao, ông biết đó là nhiệm vụ quan trọng. Tổng thống Bill Clinton khi ấy vừa tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại với Việt Nam ngày 3/2/1994, và đồng ý thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp cơ quan liên lạc. Thoả thuận đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia “cựu thù”.

Ông Thông hiểu rõ sức nặng lịch sử của nhiệm vụ này.

Đại sứ Hà Huy Thông kể về những ngày sau khi đất nước thống nhất năm 1975



Nhớ lại những ngày thống nhất đất nước cuối tháng 4 năm 1975 tại Hà Nội, ông Thông chuẩn bị tốt nghiệp cuối cấp trường Lý Thường Kiệt. Ký ức từ những cuộc sơ tán liên miên vì bom đạn, những lần chứng kiến đồng bào ngã xuống khi chiến đấu chống Mỹ đã nuôi dưỡng trong thế hệ thanh niên 5x-7x như ông khát khao hòa bình.

“Lúc đấy sẵn sàng đi đánh nhau rồi, không ngờ đất nước hoà bình, không còn chết chóc, hy sinh nữa”, ông nói.

Sau năm 1975, Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, thống nhất và bắt đầu công cuộc tái thiết thời hậu chiến.

Khi lứa sinh viên cuối cấp như ông Thông vạch hướng đi mới cho một tương lai hoà bình, ông Nguyễn Duy Trinh – lúc này là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao – cũng lên kế hoạch cho một thế hệ ngoại giao phù hợp giai đoạn mới.

Trường Ngoại giao (tiền thân của Học viện Ngoại giao) ra đời từ năm 1959, nhưng giai đoạn 1969-1974 phải ngừng tuyển sinh do chiến sự phức tạp. Theo chỉ đạo của Phó thủ tướng, trường được mở lại, bắt đầu tuyển sinh gấp theo hình thức chọn tuyển thay vì thi tuyển thông thường.

Ông Thông là một trong 48 tân sinh viên được chọn. Khi vào học, ông mới biết 4 tiêu chí được đặt ra khi đó là: Đỗ đại học; có lý lịch tốt; không nói ngọng; và có sức khỏe, ngoại hình phù hợp để làm đối ngoại.

“Làm ngoại giao trở thành bất ngờ lớn nhất của cuộc đời tôi”, ông kể.

Người thanh niên 18 tuổi khi ấy không nghĩ sẽ góp mặt trong nhiều sự kiện lịch sử của đất nước.

Ông Thông (ngoài cùng bên trái) tham gia vòng đàm phán đầu tiên về bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ giữa Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai và Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về Đông Á Thái Bình Dương Richard Solomon tại New York (Mỹ), ngày 21/11/1991. Ảnh: Tư liệu nhân vật

Sau khi tốt nghiệp, ông vào làm tại Bộ Ngoại giao. Nhiệm vụ quan trọng đầu tiên ông được giao là tháp tùng một vị khách đặc biệt vào năm 1982: thiếu tá tình báo Archimedes L.A. Patti – nguyên Trưởng ban Đông Dương của Cơ quan tình báo chiến lược Mỹ (OSS) – tiền thân của Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA).

Chuyến thăm của một người Mỹ đến Việt Nam là chuyện hiếm gặp khi hai nước đang “đóng băng” quan hệ từ năm 1979.

Ông Patti từng là người nước ngoài duy nhất được Bác Hồ tham khảo ý kiến cho bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, được Bác coi như bạn. Trước khi trở lại Việt Nam, ông đã xuất bản cuốn sách “Tại sao Việt Nam?” (1980), kể lại quá trình Mỹ tham chiến Việt Nam và những kỷ niệm với Bác Hồ.

Ông Hà Huy Thông (giữa) ghi chép buổi trò chuyện giữa ông Archimedes L.A. Patti và Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, ngày 9/9/1982. Ảnh: Tư liệu nhân vật

10 ngày tiếp đón ông Patti trở thành “khóa học” ý nghĩa nhất trong đời ông Thông về tầm nhìn ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh – những điều ông chưa từng được học trong sách vở.

Ông Patti gọi Bác Hồ là “người bạn lớn”, kiên quyết đi thăm tất cả những địa điểm ông từng đến 37 năm trước, và hồi tưởng mọi kỷ niệm từ khi mới gặp mặt Bác Hồ đến lần chia tay sau cùng.

“Nếu Việt Nam vẫn cứ tiếp tục khó khăn thế này thì có lẽ không phải đất nước mà ông Hồ muốn”, ông Patti nói khi vào viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thoáng nghe, ông Thông cảm thấy như bị xúc phạm. Nhưng rồi ông hiểu ra khi nghe vị cựu tình báo giải thích: “Đất nước còn nghèo quá”.

Ông Patti kể lại khi soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập tháng 8/1945, Bác Hồ không chỉ nói tới một dân tộc độc lập, tự do, hạnh phúc.

“Bác nói với ông Patti rằng: ‘Dân Việt Nam nghèo quá, phải làm ăn kinh tế. Nếu không tự do hoá thương mại thì các cửa hàng ở Hà Nội mãi chỉ làm ăn nhỏ lẻ. Đất nước không thể thịnh vượng được’. Đây có lẽ là bài học Bác rút ra sau những năm tháng bôn ba ở Anh, Mỹ – những nước tự do hoá thương mại từ sớm”, ông Thông thuật lại.

So với ngày ông Patti đến Việt Nam 37 năm trước, kinh tế Việt Nam đầu thập niên 1980 chưa thật sự khởi sắc.

Sau thất bại năm 1975, Mỹ duy trì nhiều chính sách cấm vận với Việt Nam. Trong khi đó, nguồn viện trợ quốc tế từ Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa suy giảm. Trong nước, mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế. Tình trạng lạm phát phi mã, sản xuất nông nghiệp không đáp ứng nhu cầu. Nền kinh tế lâm vào khủng hoảng.

Bối cảnh đó khiến Đại hội Đảng tháng 12/1986 cấp bách đề xướng công cuộc Đổi mới. Đảng cũng bước đầu vạch ra chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế.

Để phá thế bao vây, cấm vận, năm 1988, Bộ Chính trị thông qua Nghị quyết 13 với chủ trương mang tính bước ngoặt: “thêm bạn bớt thù”, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Từ đây, Việt Nam chuyển hướng chính sách đối ngoại.

Đại sứ Hà Huy Thông kể về chuyến study tour năm 1990 của Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước Phan Văn Khải và Chủ nhiệm Uỷ ban vật giá Phan Thế Tiệm đi tham khảo kinh nghiệm 4 nền kinh tế mới nổi châu Á.



Tháng 11/1991, ông Thông tham gia vòng đàm phán đầu tiên với Mỹ do Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai dẫn đầu, thảo luận các bước để bình thường hóa quan hệ, từng bước nới lỏng dần cấm vận. Mỹ cho phép tổ chức các dịch vụ du lịch đến Việt Nam, nối lại quan hệ viễn thông, tuyên bố không cấm Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) viện trợ cho Việt Nam…

Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ, cuối năm 1994, ông Thông nhận nhiệm vụ Trưởng đoàn tiền trạm đi mở Cơ quan Liên lạc. Trước khi đi, ông được cụ Phạm Văn Đồng – khi đó 88 tuổi, là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, và Thủ tướng Võ Văn Kiệt dặn dò. Ông ghi kín hai trang giấy những lời căn dặn của hai vị lãnh đạo về cách làm việc với Mỹ.

“Tâm thế lúc đó là gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, ông nói.

Nhiệm vụ quan trọng nhất của đoàn tiền trạm là: Cắm cờ ở Washington (Mỹ) trước 3/2/1995 – tròn một năm kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ.

Khi đó, Chính phủ Mỹ đã mở văn phòng tại Hà Nội từ năm 1991 để giải quyết các vấn đề về quân nhân mất tích trong chiến tranh (Văn phòng MIA), do đó, việc mở cơ quan liên lạc thuận lợi hơn. Trong khi, Việt Nam chưa có cơ quan nào ở Thủ đô Washington. Trước khi đi, ông làm tờ trình kế hoạch, tính toán cẩn thận từng chi tiết: mục đích, yêu cầu, quốc kỳ, quốc huy, tên, biển, con dấu…

“Trong đời tôi chưa gặp một tờ trình nào được phê và góp ý kín như vậy. Tất cả lãnh đạo Bộ Ngoại giao, từ Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm, các Thứ trưởng Nguyễn Dy Niên, Trần Quang Cơ, Vũ Khoan, Lê Mai đều có ý kiến chi tiết, kín mấy trang, ghi giờ để biết ai là người đọc sau”, ông kể.

“Phải mất 50 năm từ ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, cờ Việt Nam mới bay trên đất Mỹ, ước nguyện của Bác về tự do hoá thương mại mới dần thành hình”, ông nói.

Sau khi Việt Nam và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao, đầu tư của Mỹ vào Việt Nam tăng nhanh. Hiện, Mỹ là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Việt Nam, trong khi Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 8 của Mỹ. Hai quốc gia từ chỗ cựu thù, nay trở thành Đối tác chiến lược toàn diện.